MỘT SỐ Ý TƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN ĐỊNH HƯƠNG VIỆC GIA CÔNG THUỐC BVTV TẠI VIỆT NAM

MỘT SỐ Ý TƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN ĐỊNH HƯƠNG VIỆC GIA CÔNG THUỐC BVTV TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Văn Sơn1, PGS.TS. Nguyễn Trần Oánh2, PGS.TS. Nguyễn Văn Viên2,
1Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam
2Cố vấn Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam

Tóm tắt
Gia công thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ở Việt Nam, giữ một vai trò quan trọng nhằm chủ động cung ứng kịp thời các thuốc BVTV đảm bảo chất lượng vật tư nông nghiệp để phục vụ công tác phòng trừ sinh vật gây hại trong nền sản xuất nông nghiệp bền vững, nông sản an toàn. Gia công thuốc BVTV giúp cải thiện lý tính của thuốc, tăng độ bám dính và kéo dài thời gian tác dụng trên đối tượng, tiết kiệm lượng thuốc sử dụng, nâng cao chất lượng và cải thiện việc đóng gói sản phẩm, thuận tiện sử dụng và bảo quản, đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất và sử dụng, tận dụng được nguồn lực lao động trong nước.
Trong quá trình gia công thuốc BVTV ở Việt Nam phát sinh một số vấn đề từ chính sách đến trang thiết bị, đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật cũng như công nghệ sản xuất chất phụ trợ. Để chủ động cung ứng sản phẩm phục vụ công tác BVTV, phòng trừ sinh vật gây hại đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp bền vững, nông sản an toàn, cần đẩy mạnh các dạng gia công SC, EW, ME, OD, WG, DF, SE, ZC, ZE, ZW, CS, dạng Nano, Nano encapsulation. Lựa chọn dung môi ít độc và phụ gia thích thân thiện với môi trường để tận dụng các dạng thuốc có hiệu quả cao nhưng dễ gây độc cho môi trường như và cải tiến các dạng gia công: EC, WP, SL, v.v…
Bài báo có một số đề xuất liên quan đến chính sách của nhà nước, công tác đào tạo, đầu tư thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến, tăng cường phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường như thuốc BVTV dạng sinh học., đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ gia công, sử dụng phụ gia sản xuất thuốc BVTV sinh học.
Từ khóa: Gia công thuốc BVTV, sinh vật gây hại, bảo vệ thực vật, thuốc BVTV dạng sinh học
1. GIỚI THIỆU CHUNG

Hiện nay trên thế giới, người ta đang tìm kiếm các thuốc BVTV có hiệu quả cao và tính chọn lọc cao với sinh vật gây hại, an toàn hơn cho người và môi trường. Cùng với tiến bộ của các ngành khoa học kỹ thuật và những hiểu biết sâu sắc hơn hóa lý hóa keo, đã cho phép nhiều chất phụ gia mới phù hợp với các dạng thuốc mới cho phép nhiều dạng thuốc mới thuận tiện hơn cho việc sử dụng, thân thiện hơn với môi trường ra đời.
1.1. Lịch sử gia công thuốc BVTV ở Việt Nam
Trước 1990: Công nghệ gia công thuốc BVTV ở Việt Nam hầu như không có gì. Thành phẩm được nhập từ Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các nước khác về phân phối cho các địa phương sử dụng. Chỉ có Công ty Thuốc Sát trùng Miền Nam (tên cũ: năm 1978) sau chuyển thành Công ty Thuốc Sát trùng Việt Nam gia công một số dạng như dạng thuốc sữa (thí dụ thuốc TOXA-1-75ND, THIODAN 25ND), dạng bột khô để rắc hoặc bột thấm nước phun (thí dụ thuốc BHC 3BR), dạng thuốc hạt để rắc (thí dụ thuốc BHC 6H, BASUDIN 10H). Lượng thuốc do chúng ta tự gia công rất ít về số lượng, đơn điệu về chủng loại, chất lượng kém và không đồng đều.
Từ 1990 đến nay: Công tác quản lý thuốc BVTV được thắt chặt, nhiều hoạt chất quá độc với con người và môi trường bị loại bỏ. Có thể nói danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam được liệt vào một trong những danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng hiện đại và tiên tiến nhất thế giới. Cũng từ năm này, nền kinh tế của chúng ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, có nhiều doanh nghiệp nhà nước, tư nhân đều được phép tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thuốc BVTV. Ngoài việc nhập khẩu thuốc thành phẩm, một số doanh doanh nghiệp trong và ngoài nước đã nhập khẩu thuốc BVTV kỹ thuật để gia công thành một số dạng thuốc thành phẩm; một số khác lại nhập bán thành phẩm để sang chai đóng gói lại. Số lượng thuốc được gia công trong nước tăng nhanh, không chỉ phục vụ đủ nhu cầu sử dụng ở trong nước, mà còn để xuất khẩu.
Tuy ngành gia công thuốc BVTV ở Việt Nam còn non trẻ, nhưng đến nay chúng ta đã có 96 cơ sở sản xuất gia công thuốc BVTV với công xuất trên 300 nghìn tấn/ năm. Từ mấy dạng sản phẩm đơn giản, đến nay, chúng ta đã chủ động sản xuất được trên 30 dạng thuốc BVTV khác nhau. Ngoài những dạng thuốc quen thuộc trước đây, như BR, WP, EC, nhiều dạng thuốc mới cũng xuất hiện như SL, SP, ME, EW … Trong chục năm gần đây, các dạng thuốc mới đã xuất hiện nhằm thay thế các dạng thuốc cũ không thân thiện với môi trường như SC, DF WG, OD dần thay thế cho WP; Các dạng thuốc sữa chứa các dung môi độc dần được thay thế bằng các dạng không có dung môi hay mang ít dung môi hơn như SL, EW, ME…
Một trong những nhược điểm lớn trong việc sản xuất thuốc BVTV ở nước ta là chưa tự sản xuất được hoạt chất, mà hầu hết lượng hoạt chất tiêu dùng trong nước và xuất khẩu phải nhập từ nước ngoài. Nói đúng hơn, chúng ta đã từng tự sản xuất được một vài hoạt chất trừ sâu bệnh như fenobucarb, furadan và validamycin. Nhưng do qui mô sản xuất quá nhỏ, các nguyên liệu đầu vào và các chất phù trợ đều phải nhập, nên giá thành các sản phẩm này qúa cao có, không đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại nên việc sản xuất các hoạt chất này bị ngừng lại.
Các chế phẩm thuốc BVTV sinh học có vẻ dễ phát triển ở nước ta hơn. Song cho đến nay chúng ta vẫn chưa có những cơ sở sản xuất thuốc sinh học lớn. Trình độ gia công thấp, cho ra thị trường các sản phẩm chủ yếu ở dạng nước, khó bảo quản và có thời gian bảo quản thấp, giá thành sản xuất cao, nên cũng không đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại.
1.2. Tình hình xuất nhập khẩu thuốc BVTV ở Việt Nam:
Theo số liệu của Cục Trồng trọt và BVTV từ 2012- 2016, tổng lượng thuốc BVTV nhập khẩu khoảng 100.000 tấn/ năm (dưới hai dạng thuốc kỹ thuật nguyên liệu và thuốc thành phẩm). Thuốc thành phẩm được nhập về một phần để bán trực tiếp, phần khác dưới dạng bán thành phẩm được sang chai đóng gói lại để bán trong nước và xuất khẩu. Trong đó lượng thuốc sử dụng trong nước chiếm 50%, khoảng 10% được bảo quản và lưu thông trên thị trường và lượng thuốc BVTV xuất khẩu chiếm 40%.
Việc nhập khẩu nhiều thành phẩm (dùng trực tiếp) hoặc bán thành phẩm (để sang chai đóng gói lại), có thể giúp ta có thành phẩm sử dụng ngay; nhưng nhiều khi thiếu chủ động (gặp khó trong vận chuyển, trong thương lượng) và dễ không đảm bảo chất lượng sản phẩm (đối tác sử dụng các hoạt chất không bảo đảm chất lượng để gia công thành phẩm, dẫn đến việc kiểm soát chất lượng rất khó khăn). Việc gia công thuốc trong nước giúp chúng ta chủ động nguồn vật tư và kiểm soát được chất lượng sản phẩm.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm và nguyên liệu thuốc BVTV lớn nhất, thị trường xuất khẩu thuốc BVTV chủ yếu gồm các nước: Đài Loan, Singapore, Myanma, Thái Lan, Philippine, Campuchia, Pakistan, Malayxia, Úc, Newzealand, Mỹ và một số nước khác.
1.3. Tầm quan trọng của gia công thuốc BVTV tại Việt Nam:
– Gia công thuốc BVTV giúp giảm độ độ của hoạt chất trong sử dụng, cải thiện lý tính của thuốc, tăng độ bám dính, giúp thuốc trang trải trên đơn vị diện tích, tăng cường hoạt tính sinh học, kéo dài thời gian tác dụng, tiết kiệm lượng thuốc sử dụng, giảm thất thoát thuốc, nâng cao chất lượng và cải thiện việc đóng gói sản phẩm, thuận tiện sử dụng và bảo quản, phần nào thay đổi tác động của thuốc, đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất và sử dụng, tận dụng được nguồn lực lao động trong nước. an toàn trong sử dụng và phù hợp với từng mục đích sử dụng, giảm ô nhiễm môi trường và môi sinh.
– Gia công thuốc BVTV ở Việt Nam giúp chủ động nguồn cung ứng sản phẩm trong nước, phục vụ kịp thời công tác phòng trừ sinh vật gây hại đáp ứng yêu cầu của công tác BVTV trong sản xuất nông nghiệp bền vững, nông sản an toàn.
– Gia công thuốc BVTV ở Việt Nam giúp bảo đảm được giá trị thực của chất lượng sản phẩm và sản xuất được các sản phẩm theo yêu cầu sử dụng mong muốn của Việt Nam.
– Góp phần xây dựng đội ngũ gia công thuốc BVTV ở Việt Nam
1.4. Những khó khăn trong công tác phát triển gia công thuốc BVTV ở Việt Nam
– Khó khăn đầu tiên trong công cuộc phát triển công tác gia công thuốc BVTV là nhà nước chưa chú ý đúng mức đến công tác này.
– Số doanh nghiệp có tiềm lực về trang thiết bị gia công các dạng thuốc tiên tiến ở quy mô công nghiệp còn ít. Hiện vẫn còn rất nhiều cơ sở gia công thuốc BVTV còn hệ thống máy móc quá cũ, thiếu đồng bộ, thiếu nguồn kinh phí đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại để duy trì còn hạn chế.
-Việt Nam còn thiếu một đội ngũ cán bộ khoa học chuyên sâu về gia công thuốc BVTV. Cán bộ kỹ thuật của các nhà máy gia công hiện nay, chủ yếu xuất thân từ cán bộ chuyên ngành hóa chất, chưa được đào tạo chuyên sâu về gia công thuốc BVTV. Các cán bộ này thiếu kiến thức, kỹ năng cơ bản về gia công thuốc BVTV nên nhiều khi không đảm bảo đúng qui trình gia công các dạng thuốc, chứ chưa nói đến cải tiến chúng.
– Trình độ trang thiết bị của các cơ sở gia công thuốc BVTV không đồng đều, thiếu đồng bộ, còn lạc hậu , chưa hiện đại , dẫn đến chất lượng sản phẩm của các cơ sở sản xuất chưa đồng đều, sản phẩm làm ra không đảm bảo chất lượng như mong muốn.
– Thiếu sự gắn kết giữa các cơ sở gia công thuốc BVTV, còn thiếu sự gắn kết giữa các cơ quan nghiên cứu với các doanh nghiệp gia công gây khó trong việc phát triển công tác này. Giữa các cơ sở sản xuất gia công với nhau cũng chưa có sự liên kết, dẫn đến tình trạng nơi thừa nguyên liệu này thiếu nguyên liệu khác; thiếu sự hỗ trợ nhau về cơ sở vật chất nên các cơ sở không thể hỗ trợ nhau về kỹ thuật.
– Việt Nam còn chưa có nền công nghệ sản xuất chất phù trợ cho việc gia công thuốc BVTV. Hầu hết chất làm loãng (chất mang và dung môi), phụ gia và các chất hoạt động bề mặt đều phải nhập (đặc biệt các loại phụ gia thân thiện với môi trường), gây tình trạng thiếu vật tư và không chủ động. Tình trạng này lại càng trầm trọng khi công tác quản lý vật tư qua nhiều đầu mối. Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý hoạt chất và thành phẩm thuốc BVTV; Bộ Công thương quản lý việc xuất nhập khẩu các phụ gia hóa học (dung môi, chất hoạt động bề mặt), gây khó cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Việc nghiên cứu công nghệ gia công, sử dụng phụ gia sản xuất thuốc BVTV sinh học còn hạn chế.
– Công tác thông tin tuyên truyền cho việc nghiên cứu và gia công các dạng thuốc tiên tiến và việc sử dụng chúng còn ít dược quan tâm.
2. ĐỊNH HƯỚNG GIA CÔNG, SỬ DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Để phát triển công tác gia công thuốc BVTV ở Việt Nam, con đường lựa chọn là:
– Chọn các dạng thuốc góp phần nâng cao hiệu lực sinh học, an toàn, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giảm phát thải độc hại và rác thải.
– Tăng cường đi tắt, đón đầu, trang bị kỹ thuật tiên tiến
– Chọn được thiết bị hiện đại nhất trong khả năng có thể không lạc hậu để sản xuất được các sản phẩm phù hợp với tình hình sản xuất trong giai đoạn mới.
– Thời gian qua, các thuốc thuộc nhóm độc loại 1, một số thuốc nhóm độc loại 2 đã bị loại khỏi danh mục thuốc được phép dùng ở Việt Nam. Dạng thuốc bột gần như bị loại bỏ; giảm dần sử dụng các dạng thuốc dễ gây độc hại như bột thấm nước WP (gây bụi) bằng thuốc hạt phân tán trong nước WG; giảm lượng dùng dạng thuốc sữa đậm đặc EC (chứa nhiều dung môi độc hại) bằng các dạng thuốc thân thiện với môi trường hơn như sữa dầu trong nước EW, vi sữa ME, dung dịch tan trong nước…
– Chọn phụ gia tốt, thay thế một số loại dung môi dễ gây độc bằng các dung môi, nước, phụ gia thân thiện môi trường.
– Cần áp dụng công nghệ số và tự động hóa trong sản xuất và gia công thuốc BVTV ở Việt Nam.
2.1. Chú ý phát triển các dạng sản phẩm sau:
– Huyền phù đậm đặc (suppension concentrate – SC): Thành phẩm ở dạng huyền phù ổn định của một hay nhiều hoạt chất trong một chất lỏng, có thể chứa nhiều chất tan khác. Phải hòa với nước trước khi dùng. Dạng thuốc này có hoạt tính sinh học cao, an toàn với người dùng và môi trường; Giá thành thấp, tiết kiệm lượng thuốc dùng (do hạt rất nhỏ 0.1 – 5µm);Dễ dùng, dễ đong đo và dễ rót vào bình phun, không gây bụi. Nhược điểm : Dễ bị phân lớp khi bảo quản; nhưng cũng dễ phân tán lại.
– Nhũ tương dầu trong nước (O/W emulsion –EW): Thuốc thành phẩm ở dạng lỏng không đồng nhất, gồm dung dịch hoạt chất, hòa loãng trong dung môi hữu cơ, được phân tán thành giọt nhỏ khi pha với nước. Kích thước hạt: 1-10µm. Tốt nhất 2 µm. Dạng sữa dầu trong nước hạn chế được sự bay hơi của các dung môi hữu cơ, rất an toàn trong sản xuất và giá thành thấp. Nhược điểm: Gây các hiện tượng xấu như tạo kem, lắng đọng, keo tụ, nghịch chuyển, kết tụ, nhưng dễ tái tạo.
– Vi nhũ tương (Microemulsion – ME): Thuốc thành phẩm ở dạng lỏng trong suốt hay trắng sữa, chứa dầu và nước, có thể dùng trực tiếp hay hòa loãng với nước thành một vi sữa hay nhũ tương bình thường. Kích thước hạt thuốc < 0.1µm. Dạng này có hoạt tính sinh học rất cao, thân thiện với môi trường , tiết kiệm lượng thuốc dùng và giá thành hạ. - Dầu phân tán (Oil Dispersion – OD): Huyền phù ổn định của một hay nhiều hoạt chất trong hỗn hợp nước và chất lỏng không hòa tan với nước. Có thể chứa một hay nhiều họat chất không hòa tan khác, hòa loãng trong nước trước khi dùng. - Huyền phù đậm đặc xử lý hạt giống FS (Flowablecon-centrate for seed- treat-ment): Huyền phù ổn định, dùng trực tiếp hay hoà loãng để xử lý hạt giống. Đây là dạng sản phẩm rất tốt, rất hiệu quả, an toàn cho môi trường. Rất tiếc, đến nay công nghệ xử lý giống ở Việt Nam chưa phát triển. - Hạt phân tán trong nước (Water dispersible granule –WG): Dạng thuốc mới, an toàn tiện lợi, được phát triển nhanh và phổ biến, dễ đóng gói, ít bụi, các hạt tách rời nhau, phân tán nhanh; giảm tối đa chất thải. Dạng thuốc này được chú ý hơn dạng huyền phù đậm đặc và bột thấm nước. Khả năng dùng tương đương dạng lỏng. Kỹ thuật gia công cao. Dùng gia công các thuốc kỹ thuật tan và không tan trong nước. - Dạng huyền phù đậm đặc khô DF (Dry Suspension Concentrate): Sản phẩm có hàm lượng hoạt chất cao (chứa trên 60%, lên tới 90% hoạt chất), có khả năng tự động phân tán tốt, trong nước tạo thành huyền phù phun đồng nhất (độ lơ lửng có thể cao tới 90%); độ an toàn tốt, không bụi, không dung môi, không dính, không vón cục, có thể đóng gói trong túi giấy và không khó xử lý bao bì. Thuận tiện cho người sử dụng, phù hợp với nhiều loại cây trồng, không gây ô nhiễm bề mặt lá và quả, có tác dụng nhanh mạnh, hiệu quả vượt trội, có thể giảm lượng thuốc BVTV sử dụng ở một mức độ nhất định, tiết kiệm chi phí. - Dạng gia công kết hợp hỗn hợp: Cho phép tạo các dạng gia công hỗn hợp của nhiều hoạt chất thuốc BVTV dạng rắn, dạng dầu không tan trong nước với nhau. - Nhũ tương huyền phù (suspoemulsion – SE): Đây là dạng gia công hỗn hợp được dùng phổ biến nhất hiện nay. Thành phẩm ở thể lỏng không đồng nhất, gồm một hệ phân tán ổn định của các hoạt chất ở dạng hạt rắn và những giọt nhỏ trong pha nước liên tục. Dạng thuốc này cho phép hỗn hợp nhiều hoạt chất không tan trong nước với nhau. Hiệu quả sinh học cao, thân thiện với môi trường. Nhược điểm: Cần kỹ thuật gia công cao, đầu tư lớn. - Dạng ZC (hỗn hợp giữa CS và SC): Thành phẩm ở dạng huyền phù ổn định của các viên nang và một hay nhiều họat chất trong một chất lỏng, thường hòa loãng với nước trước khi phun. Dạng này tạo được dạng hỗn hợp của các hoạt chất ở dạng rắn và lỏng không tan trong nước và giải phóng từ từ hoạt chất ra môi trường. Nhược điểm: Công nghệ gia công phức tạp, nhiều công đoạn. - Dạng ZE (hỗn hợp giữa CS và SE): Thành phẩm ở thể lỏng không đồng nhất, gồm một hệ phân tán ổn định của một hay nhiều hoạt chất trong các viên nang, những hạt rắn và những giọt nhỏ trong pha nước liên tục, thường hòa loãng với nước trước khi phun. Dạng gia công này tạo được dạng hỗn hợp của các hoạt chất ở dạng rắn và lỏng không tan trong nước và từ từ giải phóng hoạt chất ra môi trường. Nhược điểm: Kỹ thuật sản xuất cao, phức tạp, nhiều công đoạn. - Dạng ZW (hỗn hợp giữa CS và EW): Thành phẩm ở dạng lỏng không đồng nhất, gồm một hệ phân tán ổn định của một hay nhiều hoạt chất trong các viên nang và những giọt nhỏ trong pha nước liên tục, thường hòa loãng với nước trước khi phun. Dạng này dùng gia công hỗn hợp các hoạt chất dạng rắn với các hoạt chất dạng lỏng không tan trong nước. Hạn chế sự bay hơi của các dung môi hữu cơ; rất an toàn trong sản xuất và giá thành thấp. Nhược điểm: Công nghệ gia công phức tạp, nhiều công đoạn. 2.2 Dạng gia công giải phóng chậm/ kiểm soát hoạt chất: Hiện có hai hai ý kiến trái ngược ở Việt Nam về việc sản xuất các chế phẩm giải phóng chậm/ kiểm soát hoạt chất: i) Thuốc BVTV trong môi trường cần càng mất nhanh càng tốt. Việc giải phóng chậm hoạt chất là vô tình gây ô nhiễm môi trường. ii) Việc giải phóng từ từ hoạt chất hay việc kiểm soát lượng hoạt chất có chừng mực ra môi trường (kỹ thuật hoàn toàn cho phép) vừa đủ diệt dịch hại, vừa không gây ô nhiễm môi trường và còn kéo dài thời gian hữu hiệu của thuốc BVTV, tăng hiệu quả trừ sinh vật gây hại. Viên nang huyền phù (Microeno capsulation/Capsule suspension - CS): Kỹ thuật phổ biến hiện nay áp dụng nguyên tắc tiếp xúc polymer hóa. Lượng hoạt chất được giải phóng được kiểm soát bằng sự điều chỉnh kích thước hạt, chất làm đặc của màng polymer và độ liên kết ngang (crosslinking) hoặc độ xốp (porosity) của polymer. Hoạt chất thuốc BVTV được giải phóng từ từ ra môi trường nhờ quá trình khuyêch tán, giảm độc hại cho môi trường, kéo dài thời gian hữu hiệu của thuốc. Nhược điểm: Kỹ thuật sản xuất cao. 2. 3 Dạng gia công Nano: Đây là các dạng thuốc BVTV rất mới, không chỉ với Việt Nam, mà mới cả với thế giới, Hiện nay ở Việt Nam chưa có công nghệ này. Các dạng nano làm tăng khả năng hòa tan của những hoạt chất không hòa tan trong nước, tăng tính ổn định (tăng độ cứng, tính thấm, độ ổn định nhiệt, độ hòa tan, độ kết tinh), ngăn hoạt chất phân hủy nhanh, kéo dài thời gian bảo quản, không sử dụng dung môi độc trong gia công thuốc BVTV thông thường. Nhờ kích thước hạt nhỏ hơn nên tăng hoạt tính sinh học của hoạt chất, kiểm soát sự giải phóng và dẫn truyền hoạt chất tới mục tiêu. Hiệu quả làm giảm lượng thuốc sử dụng phòng trừ sinh vật gây hại, giảm chi phí sản xuất và giảm ô nhiễm môi trường. Một số chất mang dạng nano: chitosan, Na alginate, hạt silic rỗng, CaC03, hạt nano bạc (Ag), chitosan/alginate, polymer. Nhũ tương Nano (Nano-emulsion): hệ ổn định về mặt nhiệt động học, trong đó hai chất lỏng (dầu chứa hoạt chất/nước) không hòa tan được trộn lẫn, tạo thành một pha duy nhất nhờ chất nhũ hóa. Dạng này không cần dùng dung môi hữu cơ độc để hòa tan hoạt chất kỵ nước, tăng độ ổn định sản phẩm, cải thiện khả năng hấp thụ và không cần khuấy trước khi phun (do không kết tủa hoặc tạo kem). Dạng nhũ tương nano được áp dụng phần lớn cho các hoạt chất không tan trong nước, như các thuốc trừ sâu nhóm pyrethroid (cypermethrin, cyhalothrin v.v.) Huyền phù nano (Nano-suspension) hay phân tán nano (Nano-disperson) là các hạt thuốc rắn có kích thước từ 200 đến 600 nm, không tan trong nước. Các hạt thuốc được phân tán rất mịn trong dung dịch nước hoặc chất lỏng hữu cơ nên huyền phù nano không cần bất kỳ chất nền lơ lửng nào, được ổn định bởi các chất hoạt động bề mặt, dùng để gia công những hoạt chất khó tan (trong cả nước và dung môi hữu cơ) và một số hoạt chất tan trong dầu nhưng không thể gia công dạng nhũ tương (emulsion). Kích thước hạt nhỏ, diện tích bề mặt lớn nên cải thiện độ phân tán trong nước của hoạt chất, che phủ lá đồng đều nên tăng hiệu lực sinh học. Viên bao nano (Nano encapsulation): Là tạo các hạt nano chứa thuốc BVTV (chất mang nano) hoặc bao bọc thuốc với vật liệu kích thước nano (gọi là vỏ hoặc lớp bọc nano). Ngoài ra còn có viên nang nano (nanocapsules), hạt cầu nano (nanospheres), nanogel. 3. NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHỤ GIA AN TOÀN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI VÀ THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG Như đã trình bày ở trên, các thuốc dạng bột hầu như không được sử dụng ở Việt Nam nữa vì dễ gây ô nhiễm môi trường. Các thuốc dạng nước được dùng là chủ yếu để phun lên cây và xử lý đất. Người ta đang tìm cách hạn chế và dần thay thế thuốc sữa EC, chứa các dung môi độc bằng các dạng thuốc nước khác. Song dạng EC với lợi thế dễ gia công, có hiệu lực trừ sinh vật gây hại cao, nên vai trò của dạng thuốc này khó bị lung lay. Xu hướng nghiên cứu các chất phụ gia trong việc gia công thuốc BVTV trong thời gian tới như sau: 3.1. Chất làm loãng: - Nghiên cứu các hệ dung môi mới ít độc nhằm giảm bớt hoặc thay thế các dạng dung môi hiện tại dùng trong gia công thuốc BVTV hiện tại. - Nghiên cứu tận dụng các vật liệu sẵn có tại Việt Nam dùng làm chất mang, các hạt hữu cơ để làm nhân cho các thuốc dạng hạt. 3.2. Chất hoạt động bề mặt: Nghiên cứu các hệ chất hoạt động bề mặt thích hợp cho các dạng thuốc tiên tiến hiện đại mới, nhằm thay thế dần các chất hoạt động bề mặt cũ độc. 3.3. Một số phụ gia khác có nguồn gốc tự nhiên: Phụ gia khác có nguồn gốc tự nhiên, nhất là phụ gia có nguồn gốc thực vật, dễ bị vi sinh vật phân hủy. 5. ĐỀ XUẤT - Nhà nước cần có chính sách để khuyến khích nghiên cứu, sản xuất và gia công thuốc BVTV như chính sách vốn, khuyến khích đầu tư trang thiết bị đồng bộ hiện đai cho sản xuất gia công thuốc BVTV. - Nhà nước cần chú ý đúng mức, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành và đội ngũ trực tiếp làm công tác gia công thuốc BVTV, gắn kết chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu với các doanh nghiệp gia công thuốc BVTV. - Có chính sách đầu tư thiết bị hiện đại và áp dụng công nghệ cao trong gia công thuốc BVTV. - Ưu tiên và khuyến khích dùng phụ gia thân thiện với môi trường, đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ gia công, sử dụng phụ gia sản xuất thuốc BVTV sinh học. - Cần khuyến khích áp dụng công nghệ số và tự động hóa trong sản xuất và gia công thuốc BVTV ở Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tổng cục Hóa chất, Công ty Thuốc sát trùng Miền Nam, 1978, Giới thiệu sản phẩm nông dược năm 1978, thành phố Hồ Chí Minh, 95 trang. 2. Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thủy, 2007, Giáo trình Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 204 trang. 3. Dương Thị Nguyên, Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Đức Thạnh, Trịnh Xuân Hoạt, 2016, Giáo trình Hóa bảo vệ thực vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 119 trang. 4. Cục BVTV, Sản xuất và gia công thuốc BVTV, 2024, Hội nghị “Thúc đẩy phát triển sản xuất thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam” 24/7/2024. 5. Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA) - 2024, Sản xuất và gia công thuốc BVTV ở Việt Nam, Hội nghị “Thúc đẩy phát triển sản xuất thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam”.